Gương mặt Du học sinh -Phạm Đức Trung Kiên, Giám đốc điều hành Quỹ Giáo dục Việt Nam

Khi sang thăm Việt Nam năm 2000, tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố sẽ thành lập một Quỹ học bổng để giúp đỡ việc giáo dục ở Việt Nam. Năm 2001, khi Tổng thống G. Bush kế nhiệm, Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) đã ra đời. Người được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành là ông Phạm Đức Trung Kiên, một Việt kiều thành đạt trên đất Mỹ .Đây là nhân vật được nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt xuân Bính Tuất) Chúng tôi đã có những buổi gặp gỡ và trao đổi thú vị với Giám đốc điều hành Quỹ VEF - người thiết kế cây-cầu-nối-kết giữa Việt Nam và Mỹ trên lĩnh vực giáo dục và khoa học.
 
Phạm Đức Trung Kiên, Giám đốc điều hành Quỹ Giáo dục Việt Nam: "Đầu tư cho giáo dục là vấn đề chiến lược của Việt Nam. Chiến lược là phải có tầm nhìn xa, phải tính con đường lâu dài 20, 30 năm sau".
 
Say mê học tập và tích lũy kiến thức trong các lĩnh vực kinh tế thương mại và quản lý điều hành 
 
Năm 1977, sau khi tốt nghiệp Cấp 3, cậu học sinh Phạm Đức Trung Kiên cùng gia đình rời Sài Gòn sang Mỹ. Ở đất nước siêu cường này, anh thi vào trường đại học Colorado, học và lấy bằng cử nhân về ngành Quản lý Thương mại quốc tế. Đây là một trường đại học lớn của tiểu bang Colorado với tổng số sinh viên trong một niên học lên đến 25.000 người. 
Trong quá trình học, Phạm Đức Trung Kiên là một sinh viên khá nổi trội về thành tích học tập và các mặt hoạt động. Sang năm thứ 3, anh mạnh dạn đứng ra tranh cử chức danh Chủ tịch Hội sinh viên đại học Colorado. Hội sinh viên của trường là một tổ chức mạnh mẽ và tích cực trong nhiều họat động đem lại lợi ích thiết thực cho sinh viên. Để trở thành người đại điện cho 25.000 sinh viên của trường, anh sinh viên “da vàng” đã vận động tranh cử một cách sôi nổi nhiệt tình hệt như đang họat động trên chính trường thật sự. Anh đã bộc lộ và khẳng định mình qua những chương trình hành động tích cực vì lợi ích thiết thực chung của giới sinh viên...
Mọi người bảo anh quá can đảm. Điều đó đã có sức thuyết phục cao, giúp anh thành công rực rỡ trong kỳ bầu cử này. Anh là sinh viên châu Á đầu tiên ra tranh cử từ trước tới nay, nhưng số phiếu ủng hộ lại đạt mức áp đảo, cao hơn 4.000 lá phiếu so với ứng viên thứ hai là sinh viên Mỹ. Và với chức danh Chủ tịch Hội sinh viên Colorado, anh đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo của mình qua các ý tưởng và nhiều chương trình hoạt động mang lại lợi ích thiết thân cho hàng chục ngàn sinh viên của trường. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân anh mà còn có ý nghĩa là bước mở đường cho các thế hệ sinh viên đàn em. 3 năm sau khi anh ra trường đã có một sinh viên Việt Nam được bầu chọn làm Chủ tịch Hội.
 
Với những thành tích trong học tập và hoạt động của Hội sinh viên, cậu cử nhân Trung Kiên được văn phòng của Thống đốc Tiểu bang Colorado giới thiệu đến văn phòng Nghị sĩ Quốc hội làm trợ lý cho Thượng Nghị sĩ Gary Hart, một ngôi sao sáng trong chính trường của Mỹ và là người rất quan tâm tới Việt Nam.
Đến 1983, Trung Kiên tiếp tục theo học cao học ở đại học Stanford, một đại học hàng đầu ở miền Tây nước Mỹ. Anh là sinh viên Việt Nam đầu tiên được nhận vào trường cao học quản lý kinh doanh Stanfort nổi tiếng nhất nhì ở Mỹ và lấy một lúc 2 bằng Thạc sĩ về Quản lý  kinh doanh và Kinh tế toàn cầu.

15 Việt kiều được bình chọn danh hiệu VDNV-2005
15 gương mặttiêu biểu có nhiều thành tích trong nghiên cứu khoa học, hoạt động kinh doanh, trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; đồng thời có những đóng góp thiết thực đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng như với đất nước.

Năm 1985, ngay sau khi có 2 bằng Thạc sĩ chuyên về Kinh tế - Thương mại, anh lại muốn tiếp tục tích lũy thêm, thu nạp thêm những kiến thức quản lý của một nước siêu cường nên quyết định thi vào chương trình đào tạo lãnh đạo trẻ của nước Mỹ “White House Fellowship”. Đây cũng là một sự “can đảm” nữa của anh, bởi vì mục đích của chương trình này là đào tạo nhân tài đặc biệt của Mỹ và không phổ biến đại trà. Họ sát hạch gắt gao và chỉ tuyển chọn 15 người thành tài trẻ - dưới 35 tuổi.
Những người được tuyển chọn sẽ được đặc cách làm phụ tá đặc biệt cho các quan chức của Nhà Trắng và các Bộ trưởng nhằm đào tạo những người này trở thành những nhà lãnh đạo của nước Mỹ trong tương lai. Đa số các vị đã qua chương trình White House Fellowship sau này đều trở thành những người có vị trí cao trong xã hội Mỹ và rất thành công trong các lĩnh vực hoạt động chuyên môn.
Nhờ sự tuyển chọn sàng lọc gay gắt từ đầu, nhờ chương trình học tập và làm việc thực tế trong Nhà Trắng, nhờ hệ thống thế lực vô hình trong các mối quan hệ mật thiết được tạo lập trong quá trình học này, họ được xem như là nguồn nhân lực đặc biệt của nước Mỹ và luôn được trọng dụng, cất nhắc. Hàng năm, Nhà Trắng đều mời các thành viên đã qua khóa Fellowship này trở về họp mặt để nghe các Bộ trưởng thuyết trình về các chương trình hành động cụ thể của các Bộ.  
Một lần nữa, Phạm Đức Trung Kiên đã chiến thắng nhiều ứng viên khác để được tuyển chọn vào học chương trình đào tạo nhân tài đặc biệt này. Công việc chuyên môn của anh là công tác mậu dịch, đàm phán thương thảo, trao đổi kinh tế với các nước Châu Á (như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan…). Qua đó, anh nắm được kiểu cách đàm phán của Mỹ, hiểu được phương cách mà các tập đoàn kinh tế lớn đã thúc đẩy hoạt động để phát triển như thế nào… 
Vài năm sau đó anh gặp ông Chủ tịch tập đoàn P&G, một tập đoàn kinh tế lớn, sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng thiết yếu của đời sống, hàng gia dụng và mỹ phẩm. Anh được mời về làm và được đào tạo để trở thành người quản lý cao cấp trong việc phát triển tập đoàn P&G ở các nước châu Á. Khi Tổng thống Bush bố đắc cử thì anh là người được tuyển chọn làm phụ tá đặc biệt trong văn phòng của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, cơ quan phụ trách về an ninh thế giới của “Lầu 5 góc”. Lúc đó là thời điểm chiến tranh vùng Vịnh lần đầu. Chính sách lúc đó chỉ giải phóng Kuwait mà không chiếm đóng Iraq.
Làm việc và tích lũy kiến thức ở “cung đình” được 3 năm, thì tập đoàn Tenneco  “săn” anh về làm Phó Tổng Giám đốc cho Tenneco. Đó là một tập đoàn kinh tế lớn ở Houston có doanh thu hàng năm trên 30 tỷ USD. Họ làm nhiều ngành nghề: đóng tàu, sản xuất phụ tùng xe hơi, đầu tư đường ống dẫn khí… sản phẩm của họ thuộc dạng cao cấp như hàng không mẫu hạm, du thuyền của Mỹ… “Nghề kinh doanh” qua các chương trình học đã “lôi cuốn” anh đến với Tenneco với vai trò người đại diện quản lý của tập đoàn ở khu vực Đông Á. 
Nhưng chính điều này đã mở ra cho anh một bước ngoặc mới.
Có về Việt Nam từ lúc còn khó khăn ấy mới thấy thương đất nước hơn
Vai trò Phó Chủ tịch và Tổng Giám đốc quản lý của tập đoàn Tenneco ở khu vực Châu Á đã mở ra cho anh một bước ngoặc mới: Trở về quê hương. Lúc đó, mỗi lần sang các nước Á Châu anh đều ghé về thăm Việt Nam. Thâm tâm anh vẫn muốn kéo đầu tư nước ngoài về Việt Nam, nhưng điều kiện của những năm 90 chưa thuận tiện.
Anh nhớ lại: “Hồi ấy, khu Tân Thuận chỉ mới có trên bản vẽ, xuống khảo sát thực tế thì chỉ có những ao rau muống… TP HCM vẫn còn rất lạc hậu với thế giới bên ngoài, muốn gọi điện thoại ra các nước phải qua tổng đài, chưa có hệ thống taxi, giá cả lại cao... Nhưng thời điểm này là một khúc quanh để tôi trở về quê mẹ”.
Anh bộc bạch: “Vâng, có về Việt Nam từ lúc còn khó khăn ấy mới thấy thương đất nước hơn, thương người dân mình hơn, và mới cảm nhận một cách đầy đủ về sự phát triển đi lên của Việt Nam trong hiện tại”. Anh nhận xét: “Người Việt Nam mình cần cù và sáng tạo lắm. Ví dụ như vào thời điểm khó khăn, nhiều bà con lao động nghèo đã dùng những chiếc vỏ lon bia, lon coca để cắt tỉa, uốn nắn thành những sản phẩm thủ công mỹ nghệ sắc sảo. Thay vì người ta đập bẹp nó đi và đem bán ve chai với giá 5 cent thì qua đôi tay khéo léo tinh tế bà con mình thu được 1 - 2 dollars. Đó là cái đẹp của dân Việt mình - luôn biết vượt qua khó khăn trước mắt, luôn vươn tới tương lai. Tôi nghĩ, muốn thấy cái đẹp của Việt Nam thì phải xem cả một cuộn phim chứ không nên xem một vài tấm hình. Nếu chúng ta chỉ xem một vài bức hình thì chỉ thấy một mặt nào đó, còn xem cả cuộn phim thì mới thấy được quá trình phát triển đi lên của đất nước, thấy từ cái khó khăn đi dần đến thuận lợi và càng tin ở tương lai tươi sáng…”. 
Qua quá trình đi đi về về những năm tháng còn khó khăn ấy và bằng trái tim nhiệt tình muốn cống hiến sức mình cho quê hương, anh đã nhìn ra những nhu cầu của đất nước: “Mặt nhỏ là giải quyết những khó khăn trước mắt về vấn đề xã hội; mặt lớn là những đầu tư về kinh tế. Còn mặt chiến lược là đầu tư về chất xám, về con người. Chính con người sẽ làm cho VN có hùng cường hay không!” 
Năm 1997, anh đã xin nghỉ làm công ty 2 năm để về Việt Nam làm những việc mình muốn. Trong phạm vi nhỏ bé của mình, anh muốn đóng góp để góp phần giải quyết những nhu cầu đó. “Tôi tổ chức làm từ thiện, kêu gọi sự giúp đỡ từ bên Nhật, bên Mỹ. Việc từ thiện của tôi nhắm vào các em nhà nghèo hiếu hoc, giúp đỡ các trường học và tìm cách giúp đỡ những thành phần tàn tật, bị bỏ rơi”.
Từ đó đến nay, cá nhân anh và những thành viên của Hội Diễn đàn Việt (VFF – một tổ chức thiện nguyện quy tụ những doanh nhân Việt kiều có tấm lòng với sự phát triển giáo dục ở quê nhà), đã thường xuyên trao học bổng cho những sinh viên khó khăn.
Trong một buổi trao học bổng cho các em mù mới đậu đại học, cao học năm học 2004-2005, anh phát biểu: “Theo tôi, người mù không hề có giới hạn trong việc học, việc làm. Trước người mù là bầu trời bao la, “ăn thua” là họ có dám nghĩ, dám làm hay không”. Anh đã chuyển tải đến các em sinh viên mù thông điệp của hội VFF là: “Học bổng trợ giúp không là phần thưởng, cũng chẳng phải món quà, mà là sự đầu tư vào con người. Sự đầu tư ở đây không phải là đem lại lợi nhuận, buộc các bạn phải hoàn trả mà là sự mong mỏi các bạn có điều kiện học hành tấn tới, tìm được việc làm, sống tự lập và giúp lại các em mù đi sau mình”. 
Về đầu tư, anh đóng vai trò cố vấn thương mại, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư về Việt Nam. (Ví dụ như côgn ty P&G mà anh đã từng làm trước đây, nay cũng đã có chỗ đứng nhất định về đầu tư ở Việt Nam. Anh cũng góp phần tích cực trong việc đưa Microsoft huấn luyện đào tạo các chuyên gia phần mềm trong nước .v.v.).
Anh cho biết: “Khi về Việt Nam tìm hiểu và nhìn thấy những nhu cầu của đất nước và với khả năng của mình tôi đã kết nối được một vài chương trình. Tôi mong muốn làm sao cho dân mình, người trong nước và ngoài nước, cùng thấy được sự cần thiết của chính sách đại đoàn kết. Tiềm năng của người Việt Nam mình ở nước ngoài là rất lớn nhưng chưa được khai thông để họ toàn tâm giúp nước. Việc này hoàn toàn nằm trong tay Chính phủ”.